Quản trị tương lai - Dự đoán thế giới tốt đẹp nhất và chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tiếp tục thoái trào, tình hình trong nước thì bất ổn vĩ mô, nợ công đang ở mức báo động, lạm phát cao…các doanh nghiệp đang đứng trước viễn cảnh đầy những khó khăn và thử thách của cuộc khủng hoảng kéo dài sắp tới. “Sổ tay doanh trí” kì này xin góp chút màu sắc lạc quan qua trích dịch bài viết của Robert Heller, tác giả - diễn giả quản trị - kinh doanh hàng đầu của Anh về chủ đề quản trị tương lai – hy vọng cho những điều tốt đẹp nhất và chuẩn bị cho những điều tồi tệ nhất.


CÁCH DỰ ĐOÁN TƯƠNG LAI TỐT NHẤT LÀ TẠO RA NÓ - CÁCH DỰ ĐOÁN TƯƠNG LAI TỆ NHẤT LÀ TRỐN TRÁNH NÓ

Ông Alan Kay – cha đẻ của ngành máy tính xách tay - đã nhận định về việc dự đoán tương lai ngay từ đầu những năm 2000 và ông đã đưa ra ví dụ về cuộc trò chuyện giữa ông với một nhà tư bản Anh trên tạp chí The Times. Bài viết này xoay quanh vấn đề về sự sinh sôi phát triển của các mô hình thương mại điện tử (là một trong những xu hướng bùng nổ bắt đầu vào đầu những năm 2000 và phát triển mạnh vào khoảng năm 2004 đến 2005 – ND) và sự giảm sút của các loại hình không gian ảo trừ e-mail. Chính vị doanh nhân này cũng cho biết việc kinh doanh phần mềm đã giúp ông kiếm hàng triệu đôla.

Thực tế thì đã có nhiều sự phủ nhận sai lầm dẫn đến những thất bại thảm hại. Câu hỏi đặt ra lúc bấy giờ là sự bùng nổ và phát triển nhanh chóng của những trang thương mai điện tử - nơi mà mọi thứ từ thượng vàng đến hạ cám đều được rao bán - sẽ đi về đâu? Nhà tư bản cho rằng mô hình thương mại điện tử B2B thì không đến nỗi quá tệ nhưng sẽ chẳng có ai bán được các sản phẩm của mình một cách thành công vượt trội. Còn trường hợp của Dell thì sao? Đây là một ngoại lệ với con số 40 triệu đô la doanh thu mỗi ngày từ các trang bán hàng của họ. Trường hợp này cho thấy sự thành công của mô hình kinh doanh thương mại điện tử theo một cách làm khác hẳn so với những gì đã được áp dụng trước đó nhờ vào việc nắm bắt được xu hướng phát triển của tương lai.

Ngoài ra, những trang trao đổi buôn bán mang đến cho doanh nghiệp các cơ hội cải thiện tuyệt vời. Nếu như trong các thương vụ đấu giá trà trước đây, người bán phải chờ đợi 6 tháng cho việc thanh toán thì với các trang web thương mai điện tử ngày nay việc thanh toán chỉ trong vài ngày, đó là khi có sự cố. Một ví dụ điển hình nữa về sức mạnh của thương mại điện tử là hãng Cisco ngày càng kinh doanh tốt hơn hãng Dell nhờ vào việc áp dụng mô hình kinh doanh này. Không có ngoại lệ nào cho sự thật ngày càng được khẳng định rằng Internet đang tăng trưởng với một tốc độ vượt bậc xét trên mọi phương diện. Và minh chứng là vị tư bản Anh cho biết 30% nhân viên của công ty ông đều kết nối internet –đối nghịch với sự thật là con số không tròn trĩnh một năm về trước. Như vậy thì điều gì giải thích cho hành động trốn tránh tương lai của người doanh nhân này?


 HIỆN DIỆN, CHỨNG KIẾN VÀ HÀNH ĐỘNG

Câu trả lời phần nào nằm ở việc các giám đốc doanh nghiệp thường hay có thái độ chỉ trích, hoài nghi và luôn cho rằng mình đã từng trải nghiệm hết các tình huống và sự việc. Đây là một cách sống trong quá khứ, thường là có xu hướng hoài niệm đồng thời thể hiện được một ước muốn mọi sự việc sẽ không thay đổi và điều này trở thành một niềm hy vọng viễn vong. Tuy nhiên, niềm hy vọng đó bao gồm cả việc chuyển đổi từ một sự bù nhìn sang thực tế những gì đang xảy ra hiện nay.

Để chứng minh thêm về sức mạnh của Internet, chúng ta có thể kể đến việc tất cả các công ty lớn ở Thụy Điển đầu những năm 2000 này đều có mạng nội bộ trong khi 61% các công ty thì có mạng kết nối ra ngoài. Còn các công ty B2C thì có đến 33% số lượng người dùng internet để mua hàng trực tuyến. Kể từ khi số lượng người dùng internet chiếm một nửa dân số thế giới thì đây chính là thời kì hoàng kim của mua bán trực tuyến.  Có hai hướng phản ứng trước sự thật này và một trong đó là sự trốn tránh.

Các công ty ở Thụy Điển thì khác, họ phản ứng theo hướng hoàn toàn đối lập – điều đang diễn ra ở Thụy Điển hoàn toàn có thể diễn ra ở các thị trường khác khi họ nắm bắt được mức độ lan toả và chiếm lĩnh thị trường của máy tính và internet (và tất nhiên là sẽ chẳng bao lâu sẽ đến thời lên ngôi của máy tính cá nhân)

Hướng phản ứng nào an toàn hơn thì đã quá rõ ràng. Một phân tích hết sức đơn giản và không thể chối cãi đã nêu lên rằng nếu như bạn phản ứng ngược lại với những thay đổi bạn sẽ thất bại trong việc kinh doanh của mình. Nếu bạn đánh cuộc với thay đổi và nếu thất bại thì bạn phải trả giá khá đắt với giả định lúc bấy giờ rằng khoản đầu tư mà bạn bỏ ra là hoàn toàn thận trọng và hợp lý. Điều đó có nghĩa là bạn đã dùng phân tích và đánh giá cho chính trường hợp kinh doanh của mình.  

 

THẾ GIỚI TỐT ĐẸP NHẤT VÀ THẾ GIỚI TỒI TỆ NHẤT

Kỹ thuật quản trị với tên gọi Thế giới tốt đẹp nhất – Thế giới tồi tệ nhất là một ví dụ đơn giản. Đó là một hình thức cơ bản cho việc lên kịch bản và thường được dùng bởi những nhà hoạch định để lên kế hoạch cho tương lai – điều mà chúng ta không hề nắm giữ và sẽ chẳng bao giờ biết rõ ràng. Vì vậy bạn phải tự vẽ ra một bối cảnh cho chính mình một cách hợp lý và thống nhất cũng như cần lập ra một kế hoạch cho chính mình để khi bất kì điều gì xảy ra thì công ty bạn cũng trong trạng thái chuẩn bị kỹ càng cho mọi thay đổi và biến cố. Trong phương pháp này bạn chỉ cần đặt ra câu hỏi:

Những kết quả tốt nhất doanh nghiệp có thể đạt được là gì?

Đâu là những kịch bản tồi tệ nhất có thể?

Doanh nghiệp có thể đột phá trong bối cảnh tốt đẹp nhất không?

Doanh nghiệp liệu có thể tồn tại trong bối cảnh tồi tệ nhất không?

Câu trả lời cho hai câu hỏi cuối đều là không. Và khi đó câu trả lời là Không tiến hoặc là Quay lại  lúc bạn tạo bối cảnh cho chính công ty mình.

Có nhiều ví dụ điển hình cho bối cảnh Thế giới tốt đẹp như công ty của Anh mang tên EMI. Dù nhu cầu của thị trường cho dòng sản phẩm máy scan y tế (một sản phẩm sáng tạo của công ty) là rất lớn nhưng công ty vẫn không thể đạt được chất lượng hoặc sản xuất tiêu chuẩn. Hãng Boeing thì gần như chìm ngập trong các đơn đặt hàng vào cuối những năm 1990s. Nhưng chính đội ngũ bán hàng cồng kềnh vì tham vọng đánh bại Airbus đã làm hệ thống công ty quá tải. IBM cũng lao đao khi nhu cầu máy tính cá nhân tăng cao đột biến so với những kỳ vọng khiêm tốn trước đó và cuối cùng phải đi đến quyết định cạnh tranh với Apple.

Trong bối cảnh Thế giới tồi tệ nhất thì không đâu xa hơn 2 trường hợp sau đây: nhà xuất bản Dorling Kndersley mắc kẹt với 10 triệu bản Star Wars tồn kho – tương lai không tươi sáng này đã khiến công ty mất 18 triệu đô và mất cả sự tự do kinh doanh của chính nó. Còn Millennium Dome thì tiến bộ trong thế giới tốt đẹp với sự gia tăng lên đến 12 triệu khách hàng – và đây là sự leo thang của những người còn chút lạc quan về tình hình chung từ thế giới tồi tệ sang thế giới tốt đẹp hơn.

Bạn không cần thêm ví dụ để rà xét độ tin cậy của những phân tích này - điều mà có thể buộc bạn làm rõ mong muốn của mình. Lưu ý rằng đây không phải là trường hợp của những nhận thức không kịp thời hay là sự thông minh có được sau một biến cố. Các nhà quản trị của Dome lẽ ra có thể - và cũng nên - tự hỏi những hậu quả nào có thể diễn ra khi theo một nửa bối cảnh Thế giới tốt đẹp.  Và họ lẽ ra cũng nên quan sát điểm hòa vốn cũng khá mấp mép với thế giới tốt đẹp một cách đầy mạo hiểm. Thay vào đó, họ đã không hề nghĩ đến con số 12 triệu khách hàng trong bối cảnh tốt đẹp mà họ có thể đạt được.

 

ĐÁNH GIÁ PHỔ BIẾN

Nói một cách khác là thất bại không phải do thiếu tầm nhìn thông minh mà do thiếu những đánh giá hợp lý.

Sự phát triển của mảnh đất màu mỡ như internet là nơi mà các chứng cứ dường rất không rõ ràng.  Sự phát triển của ngân hàng trực tuyến những năm gần đây cũng là một ví dụ. Thậm chí là ở tại Mỹ chỉ có 1.4% dân số dùng dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Ở Đức thì con số chỉ còn một nửa. Ở Pháp và Anh thì con số thậm chí ít hơn chỉ có 0.3% và 0.2%. Hơn thế nữa có rất nhiều câu chuyện khá rõ ràng rằng những khách hàng đã dùng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến thì hay thất vọng bởi các giao dịch mất khá nhiều thời gian và rối rắm này.

Trong bối cảnh Thế giới tồi tệ thì các trang web ngân hàng không hề làm tăng tính thuận tiện cho người dùng và đỉnh điểm của các hệ thống này cũng chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ trên thị trường. Dù vậy, đây vẫn là một dấu hiệu đáng lo cho các ngân hàng truyền thống. Một tỉ lệ tăng lên ở Mỹ là 9% đã chứng minh cho việc lan chiếm thị trường của hệ thống ngân hàng trực tuyến và con số này ở Anh là 45 lần.

Tốc độ phát triển này sẽ thu hút các ngân hàng trực tuyến mới ra đời – những ngân hàng này nếu cố gắng hạ mức chi phí thấp thì sẽ tạo ra được lợi nhận tốt trong giai đoạn này. Nhưng nếu trong bối cảnh Thế giới tốt đẹp thì điều gì sẽ xảy ra và liệu các ngân hàng trực tuyến có chiếm được một nửa thị trường? Lúc này thì các ngân hàng mới thành lập nên cân nhắc một chiến lược tốt hơn và lên kế hoạch cho tất cả các khả năng có thể xảy ra. Sự thật là sự chấp nhận của bối cảnh thế giới tốt đẹp có thể sẽ tự đưa ra một tiên đoán cho tương lai. Khi các ngân hàng càng chi nhiều tiền đầu tư hơn cho các website thì mức độ lan chiếm của dịch vụ ngân hàng trực tuyến càng gia tăng.

Khi đó các ngân hàng càng phải thực hiện điều mà Alan Kay cho rằng quan trọng: tạo ra tương lai. Nhưng thực tế thì họ không làm điều đó vì những gì họ đang làm là sự trốn tránh. Mức độ tiềm năng của ngân hàng trực tuyến mâu thuẫn với những gì họ giả định rằng các ngân hàng thỏa hiệp chiếm lĩnh thị trường. Mỗi một doanh nghiệp đều có tư tưởng riêng và họ có xu hướng là chia sẻ điều này với các đối thủ cạnh tranh của mình. Và trong từng chiến lược của họ cũng thể hiện điều này. Dù vậy các công ty viễn thông thì phản ứng như thể họ đang làm theo những mệnh lệnh mở rộng mạng lưới bằng hàng loạt các loại hình sát nhập, mua lại, cấp giấy phép, … một cách tốn kém và hỗn loạn. Nhưng từ trong nội bộ thì đây đã là sự bắt buộc. “ Thứ to lớn nhất là thứ tốt nhất” là sự thông minh thỏa hiệp chứ không phải là một sự thật được tạo dựng nên.

 

THOÁT KHỎI GIẢ ĐỊNH

Khi niềm tin được ủng hộ bằng những chứng cứ thì cùng một câu chuyện sẽ có những cách hành động khác nhau.

Con người luôn tìm kiếm dữ kiện thật – những chứng cứ được chọn lựa rất kỹ càng - và làm rõ sự việc một cách thuyết phục: mọi sự việc đang diễn ra như thế nào hay là chúng luôn luôn như vậy, hay là cả hai khả năng và nếu như thế thì mọi việc sẽ ra sao. Mọi giả định đều có những thử thách riêng của nó. Vậy thì hãy thách thức các giả định bằng việc đặt ra 3 câu hỏi:

Điều gì sẽ làm các giả định không còn giá trị?

Hậu quả sẽ là gì?

Các giả định sẽ ảnh hướng đến các hành động thế nào và vì vậy việc làm giá trị hóa các giả định trong một bối cảnh tương quan có là sai trái không?

Đây không phải là một bài thực tập tiêu cực. Bạn không phải đang bỏ đi những thứ cũ rích mà đang xây dựng những thứ mới mẻ cho việc kinh doanh tốt hơn. Hãy nhìn lại ví dụ của những ngân hàng một lần nữa. Họ ngày càng làm ăn đi xuống vì những tài sản cố định của họ - thứ mà phải tốn rất nhiều công đàm phán thương lượng mới duy trì được và cũng phải thuê nhiều nhân viên để duy trì nó nữa. Nỗ lực cắt giảm chi phí của họ trong cấu trúc cũ chỉ dẫn đến chất lượng dịch vụ khách hàng ngày càng kém đi và ngày càng bị khách hàng than phiền nhiều hơn. Và tệ nhất là cảnh các công ty mới thâm nhập thị trường như công ty bảo hiểm, bất động sản hay các công ty mới cung cấp dịch vụ trực tuyến, …Nếu như họ quyết tâm đi suốt hành trình cắt giảm chi phí và tăng cường các dịch vụ mới, thiết lập những mối quan hệ khách hàng bền chặt hơn và cách mạng hóa nhận thức bằng cách chính họ thử thách sự thống trị ngân hàng truyền thống  và trên tất cả thì nên tăng cường đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng trực tuyến.

Nếu như công ty bạn theo quy trình này thì các ý tưởng kinh doanh mới, có giá trị sẽ được sinh sôi. Tuy nhiên câu hỏi chính ở đây là liệu bạn có can đảm để đón nhận những nhận thức mới của mình. Cho rằng bạn đang làm việc cho nhà bán sách Barnes and Noble. Thử thách của bạn sẽ cho thấy rằng việc bán sách trực tuyến có thể sẽ chiếm hết khách hàng của những tiệm sách truyền thống. Bạn đệ trình lên Ban giám đốc một bản đề xuất bán hàng qua kênh trực tuyến và trong trường hợp đó bạn có nghĩ những vị giám đốc của bạn sẽ sẵn sàng bỏ ra khoản chi phí cho bạn thực hiện ý tưởng của mình không?

 

QUYẾT ĐỊNH TỪ TRÊN XUỐNG

Tất cả mọi người đều biết câu trả lời có thể nhất. Dự án của bạn sẽ bị phản đối ngay vì rất nhiều lý do. Khách hàng sẽ không chấp nhận hay việc làm này sẽ đi ngược với truyền thống kinh doanh hay chỉ là một lời phán xét rằng nó sẽ làm việc kinh doanh thua lỗ. Vấn đề ở đây đã quá rõ ràng. Trong hầu hết các công ty, các quyết định từ trên thường được chỉ định từ những người cấp cao hơn – những người gắn bó và trưởng thành trong việc kinh doanh truyền thống và “ngủ quên” với quá khứ cùng những thành tựu mà họ đã đạt được trong quá trình tạo dựng thành công cho doanh nghiệp. Bởi tuổi nghề của họ nên họ cũng có xu hướng trở nên cẩn trọng hơn. Họ không miễn cưỡng đầu tư nhưng chỉ khi quyền lực và danh thế của họ được tăng cao thì họ có những quyền quyết định riêng của họ.

Chìa khóa đến thành công nằm ở việc tấn công danh thế và quyền lực đó. Việc thành lập việc kinh doanh ngoài công ty có thề giúp bạn đạt được điều đó. Những nhóm mới thành lập nội bộ này thì thường đối lập với những nhóm tiền bối của họ một cách trực tiếp, thân mật, không theo một cấu trúc nào nhưng phát triển với một tốc độ phản ứng ngoạn mục, với một văn hóa làm được và thường mang lại kết quả tốt. Chất lượng của những nhóm này thì rõ ràng và mang tính thực tế cao, thể hiện những tố chất tốt mà các công ty đang cần. Nhưng những tố chất này thường không đồng nhất với tính chủ cả thường hay thống trị thậm chí là trong cả nhóm nền kinh tế mới (như trong ngành viễn thông)

Văn hóa chủ cả thường được định hình bởi quy luật quản lý bằng ngân sách. Quản trị cho tương lai thì yêu cầu một lối nghĩ mới và tổ chức mới. Kiến tạo tương lai không phải nằm ở việc kiểm soát hay ra lệnh mà nằm ở cơ hội: cơ hội cho năng lực phát triển. Những vị giám đốc trẻ tuổi có thực tài khi có không gian tự do để nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ phá vỡ lề lối cũ của quá khứ. Nếu điều này thực sự có nghĩa là phá vỡ lề lối cũ thì hãy bắt đầu thực hiện phá vỡ nó trong quá trình kiến tạo tương lai!

 

(Lược dịch từ bài viết của trên www.thinkingmanagers.com)


NHỮNG TIN KHÁC

Cơ cấu kiến tạo nên những trải nghiệm cho khách hàng 6 nguyên tắc vẽ nên chân dung “Người bán hàng chính trực” Áp dụng chiến lược Judo trong cạnh tranh Bán lược cho Sư? Thuật dùng người của những công ty nổi tiếng thế giới Nhân lực và cạnh tranh Nguyên tắc xây dựng một tổ chức hùng mạnh Từ 5 giá trị thực tiễn... đến 6 phong cách lãnh đạo hình mẫu Triết lý Kaizen và bí quyết thành công trong sản xuất Kéo & đẩy trong quản trị sản xuất Khởi đầu sự nghiệp CFO & những việc cần làm trong 100 ngày đầu tiên tại vị Khởi đầu sự nghiệp CFO… 10 "siêu" quy luật bán hàng Bí quyết xây dựng thương hiệu cá nhân cho CEO Lãnh đạo cấp độ 5, điều kiện đủ cho bước phát triển nhảy vọt Marketing và lối ra trong khủng hoảng 9 bí quyết marketing từ quầy nước chanh của bé gái 6 tuổi Quyết định đầu tư dựa vào Hiện giá thuần NPV và Tỷ suất sinh lợi nội bộ IRR Cạnh tranh trong cuộc chiến tài năng GROW - Mô hình huấn luyện nhân viên hiệu quả Gắn kết tài sản vô hình với chiến lược của doanh nghiệp Cái gì tạo nên một nhà quản lý hiệu quả? "Bán than, Mua lạc" và câu chuyện nhìn xuyên khủng hoảng Quản trị tương lai - Dự đoán thế giới tốt đẹp nhất và chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất 5 CEO gốc Việt được truyền thông thế giới ngưỡng mộ nhất 2011 Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Huy động vốn trong năm hạn 2012 10 kiểu khách hàng “khó nhằn” nhất Xu hướng kinh doanh năm 2012 Những CEO tệ nhất năm 2011 Khi CEO quá sa đà vào công việc thường ngày

Song song với hoạt động đào tạo được tổ chức thường xuyên tại Trụ sở của nhà trường (rộng mở cho nhiều doanh nghiệp), PACE còn chuyên cung cấp dịch vụ đào tạo theo yêu cầu riêng của từng doanh nghiệp trong và ngoài nước, gọi là hoạt động “đào tạo in-house”.

Các chương trình đào tạo này được thiết kế chuyên biệt phù hợp với mục tiêu đào tạo mà doanh nghiệp đó đã đề ra, và những hoạt động đào tạo này thường được tổ chức ngay tại trụ sở của doanh nghiệp có yêu cầu... Xem tiếp >>

Tủ sách doanh trí

Xem tiếp